Vào tháng 3, BDG công bố báo cáo về số liệu thống kê cho Trung tâm Nghiên cứu Pew (Pew Research Center) đã chỉ ra rằng số lượng Phật tử đang suy giảm trên toàn thế giới. Mặc dù tiêu đề này rất giật gân và đáng lo ngại, Dzongsar Jamyang Khyentse Rinpoche, người thường xuyên theo dõi các xu hướng Phật giáo trải dài khắp Châu Á và khắp nơi trên thế giới, đã chỉ ra những vấn đề về phương pháp luận và những giả định sai lệch trong các nghiên cứu này. Với sự sắc sảo và ngôn từ thẳng thắn mang tính đặc trưng, ngài đã bàn luận về những hệ lụy và vấn đề của nghiên cứu này trong một cuộc trò chuyện sâu rộng và toàn diện.
Rinpoche được biết đến là một vị Lạt-ma người Bhutan vang danh và được kính trọng trên toàn thế giới, đồng thời ngài là bậc thọ trì truyền thừa phong trào Rimé (Bất bộ phái) và các giáo lý của Tổ Jamyang Khyentse Wangpo (1820-92). Bên cạnh vai trò đạo diễn phim với nghệ danh Khyentse Norbu, ngài còn sáng lập rất nhiều các tổ chức và quỹ từ thiện để cống hiến cho giáo dục, dịch thuật và giảng dạy Phật pháp như 84000, Siddhartha’s Intent, Deer Park Institute và nhiều tổ chức khác.
BDG: Khảo sát gần đây của Pew về sự suy giảm nhân khẩu học giả định của Phật giáo cho rằng nguyên nhân đến từ sự kết hợp của “quá trình chuyển giao thế hệ, áp lực từ phong cách sống và sự thay đổi trong cách nhìn nhận về văn hoá tôn giáo”. Ngài thấy những sự thay đổi này trong nền Phật giáo Châu Á có sự khác biệt gì so với những diễn biến “độc thần giáo” ở phương Tây? Liệu những phân tích này có đang bỏ ngỏ điều gì không?
Dzongsar Jamyang Khyentse Rinpoche: Trước khi tôi trả lời câu hỏi của bạn, tôi muốn nhấn mạnh rằng Phật tử phát nguyện cho tất cả hữu tình chúng sinh đều trở thành Phật, không phải trở thành Phật tử. Tương tự, bất kỳ ý niệm bám chấp nào vào danh xưng Phật tử hay bản ngã cá nhân đều không phải là mục tiêu của một đạo lộ trao truyền giáo lý vô ngã.
Dù vậy, khi tôi trả lời câu hỏi của bạn về sự hưng suy của Phật giáo, tôi sẽ mượn lăng kính của một “Phật tử nặng lòng với Đạo”, với một ý niệm tự hào mãnh liệt và sôi sục về bản sắc Phật giáo – đó là điều mà một người Phật tử thực sự phải sinh tầm tàm quý (hổ thẹn).
Cùng với hệ quy chiếu đó, nghiên cứu phân tích của Pew đã bỏ qua một yếu tố then chốt, một cách hữu ý hay vô thức. Thực chất, bản thân việc so sánh các hệ thống “tôn giáo”, và sự suy thoái của Phật giáo so sánh với sự phát triển của Áp-ra-ham (độc thần giáo) chỉ có thể được lý giải thấy đáo khi soi chiếu trong bối cảnh và dòng chảy của lịch sử.
Kể từ khi Bồ Đào Nha khởi xướng cho công cuộc thực dân hoá toàn cầu của Châu Âu vào thế kỷ thứ 16, cục diện thế giới đã hoàn toàn thay đổi. Không chỉ những kẻ thống trị thực dân thuần tuý cướp bóc, bóc lột, chà đạp và nô dịch các thần dân thuộc địa. Họ còn triệt tiêu cả cả tâm hồn và tinh thần của những người bị trị. Tiến trình thực dân hoá đó chưa từng chấm dứt mà vẫn đang âm thầm leo thang trong chính thời đại của chúng ta, chi phối các giá trị, thể chế và hành vi trên quy mô toàn cầu.
Dẫu từng đi qua đi qua sự tàn phá khốc liệu ngoài sức tưởng tượng của cuộc cách mạng văn hoá, nhưng ở đó công phu tu học và thực hành Phật pháp tại Trung Quốc vẫn duy trì sinh khí rất mạnh mẽ, và quan trọng hơn hết, một lượng lớn người dân tại đó chủ động khẳng định bản sắc văn hoá Phật giáo của chính mình. Theo một số ước tính, Trung quốc có số lượng phật tử hiện nay lớn hơn bất kỳ nơi nào khác, chiếm một nửa tổng số Phật tử trên toàn thế giới.
Nhưng khi Mỹ phủ bóng thực dân lên Nhật Bản và Hàn Quốc – những quốc gia từng là thành trì kiên cố của Phật giáo – sau chiến tranh thế giới thứ 2, Phật giáo đã bị đẩy ra bên lề xã hội và cứ thế suy thoái cho đến tận ngày nay. Đáng nói hơn, các nhà truyền giáo ở Hàn Quốc hiện nay lại chính là lực lượng năng nổ nhất trong chiến dịch cải đạo người dân vùng Himalaya sang Cơ đốc giáo.
Hệ quả của chủ nghĩa thực dân và sức mạnh của áp chế của nó không chỉ hiện diện ở trên bề nổi, mà nó còn ăn sâu vào những tầng bậc vi tế nhất. Hãy thử nghĩ vùng Punjab của Ấn Độ đã xâm chiếm. nước Anh từ một ngàn năm trước và Gia đình Hoàng gia Anh vẫn kiêu hãnh đưa món Sarson ka Saag lên bàn tiệc cung đình vậy.
Chẳng phải Áp-ra-ham (Độc thần giáo) sở hữu một hệ thống lý luận logic xuất chúng hơn hay đi sát với khoa học, mà đơn giản là vì chúng được đồng nhất với hình bóng của giới cầm quyền thực dân. Trong một thế giới nơi mà quyền lực và vật chất là đích đến của thế nhân, những kẻ thắng cuộc sẽ luôn là hình mẫu để noi theo, nếu không nói là đố kị. Và quy luật này bao hàm cả việc không ngừng đánh đồng Cơ Đốc giáo với một quyền lực tối cao. Hãy thử nhìn xem, khi người được cho là có quyền lực nhất trên trái đất này tuyên thệ nhậm chức Tổng thống Hoa Kỳ, họ vẫn đặt tay lên cuốn Kinh Thánh…bất chấp việc nước Mỹ đang chuốc say phần còn lại của thế giới bằng vỏ bọc dân chủ và tách bạch khỏi thế tục.
Chính trong bối cảnh lịch sử đó, giới cai trị thực dân đưa Phật giáo vào trong giỏ hàng gọi chung là “tôn giáo”. Dù cho việc gán ghép các đặc tính tôn giáo vào đạo Phật đã từng đặt rất nhiều dấu hỏi sâu sắc, nhưng định kiến ấy đã bị bám rễ quá lâu đến mức giờ đây chúng ta chẳng thể nào quay lùi lại được nữa.
Nhưng trong Tiếng Anh – ngôn từ của giới cai trị thực dân – thuật ngữ “Tôn giáo” thực tế xuất phát từ một nền văn hoá hoàn toán khác, nơi mà thuật ngữ này liên hệ một cách sâu sắc với hệ thống đức tin Áp-ra-ham, vốn có những định nghĩa, tiêu chuẩn và phương pháp luận hoàn toàn khác tương phản với Phật giáo, Advaita, Đạo giáo và các truyền thống minh triết khác.
Lấy một ví dụ, Phật giáo không có những lời hứa hẹn ban ân từ đấng Tạo hoá như Áp-ra-ham từng rao giảng, chẳng có những khái niệm như người được chọn, cũng chẳng có hệ thống phán xét thiện ác hay thưởng phạt. Các tôn giáo Áp-ra-ham cũng chẳng bao giờ tra hỏi về khái niệm gọi là bản ngã. Quả thật, bởi đặc tính nhị nguyên đầy tự hào và có ý thức, cũng như việc một phần nguồn gốc của chúng xuất phát từ những rạn nứt gay gắt bất tương đồng với các hệ thống đương thời, nên chúng thường phô diễn công khai tính chính trị, đậm tính giáo điều và gắn kết chặt chẽ vào đời sống thế tục.
Nhưng bởi vì người ta thường thấy đạo Phật như là một “tôn giáo” và rồi dễ dãi gắn đặt lên bàn cân so sánh với các tôn giáo khác, họ vô thức giả định rằng Phật giáo và các hệ thống tin ngưỡng khác cũng có những đặc tính giống Áp-ra-ham. Đó là sự ngộ nhận sai lầm và thô thiển, hoàn toàn đánh mất đi tính tuý của bản chất vấn đề.
Không chỉ riêng nghiên cứu Pew, mà cả những lời luận điệu của giới cuồng tín tôn giáo, chuyên ngành học thuật về tôn giáo đối chiếu, và nhiều lĩnh vực khác, thường xuyên thất bại trong việc nhận thức rằng Phật giáo đơn giản là không thể khoác vừa chiếc áo “tôn giáo” theo cách định nghĩa của Áp-ra-ham.
Khi phân tích xu hướng phát triển hay suy thoái, chúng ta cũng cần phải nhận thức rõ ràng về sự chuyển giao thế hệ, chủ nghĩa đa nguyên, làn sóng toàn cầu hoá, cũng như những biến thiên trong lối sống và văn hoá đã tước đi bản sắc của con người trên toàn cầu. Trong bối cảnh thực tại hiện nay, nhiều khả năng chúng ra sẽ chứng kiến sự bành chướng của các tôn giáo Áp-ra-ham – những hệ thống cam kết cùng với những đức tin hứa hẹn mang lại điểm tựa bản sắc cho những cá thể đang rơi vào trạng thái bất an, chới với và hoang mang.
Trái lại, Phật giáo tháo gỡ triệt để thay vì củng cố ý niệm bản ngã (cái tôi) và bản sắc. Những khái niệm như vô thường hay khổ đế (chân lý về sự khổ) không cung cấp loại kiến tạo những câu chuyện đầy mị lực mà các quốc gia hay tôn giáo độc thần vẫn thường sử dụng để thúc đẩy tinh thần ái quốc và niềm kiêu hãnh về bản sắc cá nhân của họ.
Vậy nên, tóm tắt lại, tôi không biết đâu là giáo lý cốt tuỷ của các tôn giáo Áp-ra-ham có chiếm thế thượng phong hay không. Nhưng khả năng cao là chủ nghĩa tự hào văn hoá xoay quanh các tôn giáo Áp-ra-ham sẽ không ngừng bánh trướng, trong khi Phật giáo, dẫu chỉ xét ở bình diện văn hoá, cũng sẽ bước vào kỷ nguyên suy thoái.
BDG: Dữ liệu từ Pew chỉ ra 90% Phật tử trên toàn thế giới chỉ tập trung tại 10 Quốc gia khu vực Châu Á. Điều này thực tế có đồng nghĩa rằng “Tứ Pháp Ấn” tại Phương Tây – Sự kiện từng được tán dương như một bước ngoặt lịch sử của Phật giáo trong vài thập niên trở lại đây – rốt cuộc lại quá bé nhỏ để kiến tạo nên một sự dịch chuyển về mặt nhân khẩu học? hay đơn thuần là chúng ta đang đánh giá cộng đồng Phật tử phương Tây quá một lăng kính quá hạn hẹp?
DJKR: Nhân khẩu học, tất nhiên là quan trọng. Nhưng việc trở thành Phật tử về mặt truyền thống hay văn hoá thì còn là điều quan trọng hơn hết. Rõ răng hai điều này gắn bó mật thiết với nhau, bởi lẽ phần lớn Phật tử tại 10 quốc gia Châu Á kể trên thừa nhận danh dưng Phật giáo thông qua bối cảnh xuất thân, tính truyền thống hoặc mang tính nghi thức về bề mặt, thày vì là những hành giả hay học giả nghiên cứu Phật pháp một cách miên mật.
Hệ quy chiếu này cũng diễn ra tương tự với Cơ Đốc giáo hay Hồi giáo, khi sự bành trướng hiện tại và sức vươn lên không ngừng của họ được nuôi dưỡng bởi các yếu tố văn hoá. Tôi sẽ lấy một ví dụ, người ra đồn đoán rằng lý do bầu cử Donal Trump lên ghế tổng thống đó chính là sự ảnh hưởng của cái gọi là “cánh hữu Cơ Đốc giáo”. Nhưng tôi tin rằng phần lớn những cử tri đó thực sự là những người chỉ có văn hoá về Cơ Đốc giáo và có thể họ còn chưa bao giờ đọc đến Kinh Thánh, huống chi là về nghiên cứu thần học. Dẫu là thế, nhưng số lượng của nhóm tín đồ này cùng với lực lượng văn hoá Hồi giáo cũng đã đủ sức để tạo nên những tác động vĩ mô.
Như tôi đã chia sẻ, con người chúng ta cần có những định danh về cá nhân. Bởi văn hóa đóng vai trò chất keo gắn kết các cá thể thông qua hệ ngôn ngữ chung, hay những liên đới về quốc gia, sắc tộc, bối cảnh lịch sử, hoặc hệ biểu tượng, giá trị và đức tin cốt lõi, nên nó tạo ra một “lớp đệm bản sắc” an toàn và tiếp tục nắm giữ vai trò trọng yếu trong việc giải mã các trào lưu toàn cầu.
Văn hoá tôn giáo có sức ảnh hưởng và sức mạnh bao trùm đến mức ngay cả những cá nhân tự xưng mình là người có tư tưởng tự do, cấp tiến, vô thần hay đứng ngoài mọi tôn giáo, thì sâu thẳm vô thức, họ vẫn luôn tựa mình vào chiếc nệm êm ái của bản sắc văn hoá đã hoà tan cùng với tôn giáo ấy. Những người cổ xuý cho các thuật ngữ thế tục như “Nhân quyền”, hiếm khi nhận thức được những gốc rễ sâu xa của những thuật ngữ này trong hệ thống tư duy của Cơ Đốc giáo, và họ hiếm khi bận tâm đến nhân sinh quan và các hệ giá trị có thể được kiến tạo và tôn vinh khác biệt đến nhường nào ở những nền văn hóa khác.
Chẳng hạn, một số nền văn hoá không chỉ trân trọng sự hiện hữu và mạng sống của con người mà còn bao trùm tất cả hữu tình chúng sinh. Và một số truyền thống đề cao nghĩa vụ và trách nhiệm làm con người ngang bằng với “nhân quyền” Những hệ quy chiếu này không bao giờ cung cấp những nền tảng hoặc tiếng nói hiệu quả, nhưng ít nhất việc nhận thức rõ về khái niệm “nhân quyền” có thể mag tính bất cập đối với những người được lớn lên ở những nền văn hoá khác nhau.
Di sản Áp-ra-ham đã len lỏi vào hầu hết trong mọi nhịp sống của chúng ta. Nó dai dẳng và vi tế đến mức ngay cả những người học Phật lâu năm ở phương Tây đôi khi cũng vẫn có thể thấy hiểu và thực hành đạo Phật thông qua lăng kính còn vương sót nhiều tàn tích của hệ tu tưởng Áp-ra-ham.
Sự đam mê bất ngờ của phương Tây đối với Phật giáo vào những năm 1970 được thúc đẩy từ nhiều nguyên nhân như bất mãn ở nhà, chiến tranh Việt Nam, phong trào hippie, sự tò mò thuần tuý hướng về phương Đông, và tất nhiên là những khát vọng chân chính muốn phá vỡ các khuôn mẫu tư duy để truy cầu một chân lý cao cả. Tuy nhiên thế hệ ấy – những cá nhân phần lớn ở độ tuổi đôi mươi ở giai đoạn đó – nay đang bước vào thời kỳ thoái trào, và tôi hoàn toàn không thấy những sự tăng trưởng về nhân khẩu học mới nào trong cộng đồng phương Tây. Những sự tăng trưởng đó đang diễn ra ở những nơi như Vancouver, Los Angeles và Sydney phần lớn là do làn sóng nhập cư của người Trung Quốc, Việt Nam và những người dân Châu Á khác.
Dù nói đến tất cả những điều này, tôi vẫn cảm thấy phương Tây vẫn có thể cống hiến những giá trị to lớn cho Phật giáo, không phải về lượng và là về chất. Phương Tây luôn khẳng định mình đề cao tư duy phản biện và khách quan. Dù đôi khi tôi cảm thấy nghi ngờ về việc họ thực hành thực sự như thế nào, đây chắc chắn vẫn là một trong những giá trị quan trọng, và tôi thực sự muốn thấy những hành giả phương Tây áo dụng những giá trị đó để giữ gìn, bảo vệ và bảo hộ cho Chánh Pháp. Ở một chừng mực nhất định, điều này đã thực sự hiện diện, song cũng có những lúc dường như bị đe doạ, đặc biệt là khi những hành giả này không dùng tư duy phản biện để soi rọi lại vô số những tiền đề chưa được kiểm chứng của họ.
Trong các ngành khoa học xã hội, thuật ngữ “emic” (nội quan) đôi khi được dùng để mô tả một nền văn hoá từ góc nhìn bên trong và hệ quy chiếu của chính nó, tương thích với những giá trị có ý nghĩa với các thành viên trong nền văn hoá đó. Trái lại, từ “etic” (ngoại quan) lại đại diện cho một phương pháp phân tích từ văn hoá bên ngoài, mang tính khoa học và khách quan, rạch ròi và mang tính khoa học hơn. Để có một cái nhìn toàn vẹn và thấu đáo, người ta luôn cần sự song hành của cả hai lăng kính này.
Tương tự như vậy, Phật Pháp chỉ được bảo tồn tốt nhất khi tất cả những tư duy phản biện, phân tích, và tính khách quan được vận hành hài hoà với góc nhìn “emic” từ bên trong. Tôi tin rằng một số hành giả phương Tây có thể cảm nhận được sự kết nối sâu sắc với Chánh Pháp, và kết nối đó được dung hoà với truyền thống tư duy phản biện sắc bén của họ sẽ thực sự giúp bảo tồn Chánh Pháp, đối lập với những phiên bản Phật giáo đã bị pha loãng bởi muôn ngàn lớp văn hoá Châu Á.
Chí ít, đó là tâm nguyện của tôi cho sự nở rộ của Chánh Pháp ở phương Tây, dù đôi khi tôi vẫn hoài nghi liệu điều đó có thật sự sảy ra hay không. Nhưng trên thực tế, những viễn cảnh hoàn toàn trái ngược có thể diễn ra, đơn giản là vì những di chứng của si sản thực dân vần còn ẩn khuất, khiến người Ấn Độ, Trung Quốc và các quốc gia Châu Á khác tự quay lưng mỉa mai cội rễ văn hoá của chính mình và ngước nhìn phương Tây như những vị thần chiến thắng. Thái độ nể trọng quá mức, nếu không nói là sự khuất phục mang tính nô lệ của người Châu Á trước các thể chế giáo phục phương Tây, tốt cuộc chỉ càng củng cố thêm phức cảm tự ti tột độ ấy.
Thực tế cho thấy, từ góc nhìn “emic” nội quan được đề cập ở trên, rất nhiều người dân Châu á không chỉ thuần tuý học hỏi thế giới quan của phương Tây mà thậm chí còn làm chủ nó một cách tài tình. Một ví dụ điển hình là đạo diễn Ang Lee của phim Brokeback Mountain (2005) và tiếp đó là Chloé Zhao của phim Hamnet (2025). Họ là 2 đạo diễn người Trung Quốc đã lột tả một cách tài tình những xung đột về xu hướng tính dục và những ẩn ý sâu xa của Anh ngữ thời Shakespeare như thể họ là người bản xứ.
Thú vị hơn hết, tôi chưa từng thấy bất cứ sự đối lập nào như vậy. Người phương Tây viết sách, làm phim về Ấn Độ hay Trung Quốc thì tất yếu họ mang lăng kính của phương Tây và họ khác lên những trải nghiệm, góc nhìn theo xu hướng lãng mạn hoá. không những đánh mất đi tính phân tích phản biện và khách quan, các tác phẩm này còn thường xuyên thất bại trong việc khắc họa, và có khả năng làm pha loãng một cách vi tế chính cái thực tại mà họ tuyên bố đang mô tả.
Nói tóm lại, nếu người phương Tây có thể vận dụng những đam mê cốt lõi của họ về tư duy khách quan, phân tích khoa học một cách độc lập khỏi các thiên kiến và định kiến, điều đó sẽ thực sự giúp bảo tồn và hộ trì cho Chánh pháp. Việc có được một vài người thực sự thấu hiểu Đạo Phật tận tường từ trong ra ngoài như thế thật đáng giá hơn rất nhiều so với việc có hàng triệu người nhắm mắt cải đạo để xưng mình là Phật tử.
BDG: Xin Ngài hãy cho biết đâu là nguyên nhân về mặt nhận thức khiến đạo Phật ngày một suy yếu? Liệu có khả năng phong trào chánh niệm nhượng bộ các chân lý thiêng liêng để đánh đổi lấy “sự bảo chứng của khoa học” đối với thực hành thiền định đã gây ra hiệu ứng phản tác dụng lên các giáo lý cốt tuỷ của Phật giáo hay không? Ngài nhìn nhận ra sao về khuynh hướng mang tính vĩ mô này?
DJKR:
Trong thời đại mang tính duy vật hiện nay, Đạo Phật – một hành trình tìm cầu đạo lộ của chân lý và trí tuệ – cũng đành bất lực chịu chung sự hoại tàn về niềm hứng thú đối với mọi điều liên quan đến chân lý và trí tuệ. Federic Jameson từng nhận định: “Việc tưởng tượng ngày tận thế của trái đất còn dễ dàng hơn việc chủ nghĩa tư bản lụi tàn.” Trong bối cảnh ấy, sự quan tâm dành cho mọi truyền thống mang những sự nghi ngờ về chủ nghĩa tư bản hoặc mang các giá trị phi vật chất – trong đó có Đạo Phật – có thể bị gạt ra ngoài lề xã hội. Nếu những hệ tư tưởng xã hội sâu sắc như Chủ Nghĩa Xã Hội và Chủ Nghĩa Cộng Sản không thể tạo đà bứt phá, thì cơ may sinh tồn nào còn sót lại cho một hệ tư tưởng Phật giáo trụ vững?
Xét về thực trạng của nhóm Phật tử truyền thống hoặc nhóm văn hoá Phật giáo, có rất nhiều nguyên nhân giải thích cho việc suy thoái này, nhưng một trong những lý do ảnh hưởng lớn nhất đó chính là tàn dư của chủ nghĩa thực dân, điều mà tôi đã đề cập ở câu hỏi đầu tiên của bạn. Nhiều người nghĩ rằng chủ nghĩa thực dân là thứ gì đó đã diễn ra trong quá khứ, nhưng sự thật là điều hoàn toàn trái ngược: Chủ nghĩa thực dân ngày càng bành trướng và thống trị một cách tinh vi, xảo quyệt hơn bao giờ hết,
Đã có một lần tôi viết rằng có lẽ Coca-Cola còn tàn phá các truyền thống minh triết trên toàn cầu một cách tàn bạo và tận diện hơn cả những gì mà cuộc cách mạng văn hoá từng diễn ra ở Trung Quốc. Lúc đó đã có rất nhiều người đã phẫn nộ và phán xét tôi là kẻ nịnh bợ Cộng sản Trung Quốc. Nhưng những gì tôi đã biết là sự thật. Hãy cứ nhìn vào một nền văn minh rực rỡ như Ấn Độ. Khi đó, âm mưu thâm độc của Nam tước Macaulay (1800-59) – nhằm nhào nặn ra “tầng lớp nhân danh máu thịt và màu da Ấn Độ, nhưng lại mang tư duy, sống và tận hưởng theo đúng phong vị của người Anh Quốc” – đã thành công một cách hoàn hảo.
Gần đây có nhiều luồng suy đoán về lý do tại sao Ấn Độ lại tụt hậu quá mức so với Trung Quốc, ít nhất là phương diện vật chất. Tôi muốn lập luận trên 1 nguyên do đó đơn giản là vì giới tinh hoa Ấn Độ nói tiếng Anh trong khi giới tinh hoa của Trung Quốc nói tiếng Trung, điều đó cũng có nghĩa là giới tinh hoa Ấn Độ nghĩ bằng tiếng Anh và giới tinh hoa Trung Quốc nghĩ bằng tiếng Trung. Chính điều đó tạo ra một sự khác biệt to lớn trên mọi phương diện, bởi lẽ ngôn từ ảnh hưởng sâu sắc đến các định nghĩa, giá trị, tiêu chuẩn và hệ quy chiếu của chúng ta.
Một nguyên do khác Ấn Độ tụt hậu đó chính là cách hành xử của người Ấn Độ như những người đệ tử (chelas) hoàn toàn phục tùng, mù quáng theo gót các Bậc đạo sư mới là người phương Tây, trong khi đó người Trung Quốc thì không như vậy. Khi người Ấn độ đang tiêu hoá những gì mà họ đang được dạy như đúng cách mà Macaulay mong muốn, thì người Trung quốc lại có những sự lựa chọn những gì mà họ đang cần và bỏ qua những gì không cần thiết.
Người Ấn Độ dường như đã quên đi những gì mà Krishna đã nói khi Arjuna hỏi ngài đâu là hành động đúng đắn khi mọi thứ xung quanh vừa có vẻ đúng và sai cùng lúc. Krishna đã trả lời “Tốt nhất là thà bỏ mạng trong Chánh Pháp của mình còn hơn là đi theo Đạo của kẻ khác vốn đầy rẫy những hiểm nguy.”
Trên toàn thế giới và đặc biệt là Châu Á, những hậu duệ của nhưng dân tộc bị đô hộ lại thường mang đậm tính thực dân về thị hiếu và tâm tính hơn cả những ông chủ thực dân của họ. Và vì thế, một công dân Singapore hiện đại, trí thức cao lại có nhiều khả năng hứng thú với tác phẩm Dụ ngôn cái hang (Allegory of the Cave) của Plato hơn là trường phái triết học Duy Thức (Chittamatra) được ra đời từ thế kỷ thứ tư, mặc dù trường phái Duy Thức đã luận bàn tường tận về bản chất huyễn hoá của mọi sự vật hiện tượng và sự cần thiết của việc tìm kiếm sự thật ngay trong tâm thức.
Tương tự như vậy, một người Bengal sẽ chẳng màng chú ý đến một quan niệm bám rễ sâu sắc trong chính các truyền thống minh triết của Ấn Độ, chẳng hạn như quá khứ đã qua, tương lai chưa tới, hiện tại ở ngay đây và lúc này, và tất thảy những điều đó đều là một huyễn ảnh. Chỉ khi bạn đưa ra một cái tên châu Âu như Albert Einstein khi bàn về tính tương đối của thời gian, thì người Bengal đó mới chịu cúi đầu tín phục trước cùng một khái niệm ấy mà chẳng mảy may thắc mắc. Anh ta đã bị nhồi sọ đến mức tin rằng chỉ những tri thức xuất phát từ phương Tây mới có giá trị. Các Phật tử rõ ràng sẽ còn phải đợi thêm một thời gian nữa để thuyết phục thế nhân rằng sinh tử cũng chỉ là một huyễn ảnh — ít nhất là cho tới khi một nhà vật lý phương Tây nào đó đi đến cùng một kết luận như vậy.
Chẳng trách sao người châu Á rốt cuộc lại vô thức đánh đồng sự hiện đại hóa với quá trình Tây phương hóa. Và vì thế, đạo Phật luôn bị coi là một thứ gì đó cổ hủ, mê tín, và chắc chắn là không hề tiến bộ. Vậy nên, trong khi các tín đồ Cơ Đốc giáo không bao giờ phải tiết chế sự sùng đạo của mình, thì các bậc đạo sư Phật giáo lại phải đặc biệt cẩn trọng để diện mạo hay ngôn từ của mình không có vẻ “quá Phật giáo”
Do đó, ngày nay khi người ta sử dụng các thuật ngữ, công thức và phương pháp của chánh niệm, họ gần như sốt sắng lảng tránh việc thừa nhận gốc gác của chúng là từ Phật giáo. Từ sự đạo văn của Meister Eckhart Tolle cho đến việc Sadhguru nhặt nhạnh và xào xáo lại những mảnh vụn của truyền thống minh triết Phật giáo ở chỗ này chỗ kia, những lớp vỏ bọc mới mẻ bóng bẩy ấy không bao giờ thừa nhận Phật giáo hay ghi nhận cội nguồn. Tuy nhiên, một người đệ tử chân chính của Đức Phật có thể coi tất cả những điều này là một phước báu lớn lao, và thậm chí là một hóa hiện đích thực của Đức Phật, miễn là điều đó đang thực sự mang lại lợi lạc cho chúng sinh.
Nếu bạn thưa hỏi một bậc đạo sư Phật giáo chân chính về những nguyên nhân nhận thức luận dẫn đến sự suy vi của Phật giáo, vị ấy có thể sẽ trả lời rằng đó là do sự thiếu hụt phước báu (công đức). Điều đó có nghĩa là người ta không có đủ sự dấn thân tận hiến cho việc tầm cầu chân lý. Bản thân điều đó không có gì mới mẻ. Con người vốn dĩ chưa bao giờ có một khao khát vô tận đối với chân lý. Trên thực tế, điều ngược lại mới đúng.
Nhưng chính câu hỏi của bạn đã cho thấy cái mức độ mà ngày nay chúng ta luôn phải đi tìm sự bảo chứng của khoa học cho những gì mình làm. Thế nhưng, đó thực chất lại là một căn bệnh mà chúng ta thực sự cần phải dứt bỏ. Đôi khi các nhà khoa học nuốt phải một thứ độc dược mang tên “không tin vào bất cứ điều gì”. Những lúc khác, họ lại nuốt phải một thứ độc dược mang tên “tin tưởng trong giới hạn năng lực của chúng ta”. Nếu định nghĩa về tôn giáo là một hệ thống tin tưởng vào một điều gì đó, thì khoa học cũng chẳng tiến bộ hơn bất kỳ tôn giáo nào.
BDG: Trên khắp các quốc gia châu Á, dường như đang có một làn sóng ngầm trong giới trẻ mang tâm lý hoài nghi về kiếp lai sinh (đời sống sau cái chết) và chỉ tập trung vào việc đạt được thành công cùng những tiện nghi trong hiện kiếp. Các nhà lãnh đạo Phật giáo có thể đối thoại như thế nào để vừa thấu cảm vừa mang lại hiệu quả trước lối tư duy này?
DJKR: Sự hoài nghi về kiếp lai sinh không phải là điều gì mới mẻ. Khi các kinh điển Phật giáo định nghĩa về những chúng sinh bình phàm, đầy những nhiễm ô, các văn bản này đôi khi gọi họ là những kẻ chỉ nhìn thấy hoặc chỉ bận tâm đến “bờ bên này”. Rõ ràng là khó khăn hơn rất nhiều khi đàm luận về một điều gì đó vượt ngoài bản thân chúng ta. Khi một điều gì đó nằm ngoài tầm với, ta chỉ có thể đưa ra giả thuyết.
Nếu mọi người thực sự có thời gian, năng lượng và sự hứng thú để chú tâm đến những gì chúng ta thực sự hàm ý qua các từ “sự sống” và “sau đó” (afterlife), thì tôi nghĩ ít nhất họ có thể bắt đầu làm lung lay cái niềm tin quả quyết cho rằng không có gì tồn tại bên ngoài kiếp sống này. Nhưng chúng ta sẽ phải chờ một nhà vật lý học chứng minh cho sự liễu ngộ của Phật giáo về vấn đề này, thì mới mong thực sự thuyết phục được người Ấn Độ, người Trung Quốc, người Thái Lan, và những người thừa kế khác của truyền thống minh triết Phật giáo.
Về vấn đề đó, nếu xã hội của chúng ta có thể dành chút sự lưu tâm đến vô vàn định nghĩa khác nhau của các từ như “thành công” hay “tiện nghi”, tôi tin chắc rằng Phật giáo sẽ đóng một vai trò vô cùng trọng yếu. Trên thực tế, điều đó đã và đang diễn ra ở một vài ngóc ngách trong xã hội của chúng ta.
Còn về việc làm thế nào để các bậc đạo sư Phật giáo có thể giao tiếp một cách thấu cảm với lối tư duy duy vật đang thống trị, tôi khuyên rằng bản thân các ngài cũng nên tự mình trải qua chính những hoàn cảnh mà đệ tử của mình đang nếm trải. Điều đó là thiết yếu, đơn giản bởi vì sự thấu cảm là một trong những phẩm tính khó thành tựu và khó hàm dưỡng nhất.
BDG: Ngài có lời khuyên nào dành cho các nhà lãnh đạo Phật giáo khác trước những tin tức này?
DJKR: Cá nhân tôi nghĩ rằng, chúng ta chỉ nên có một khát nguyện chân thành hướng đến sự giác ngộ của tất cả chúng sinh, và do đó, hướng đến sự bảo tồn và hưng thịnh của Phật pháp. Đó có vẻ là phương cách tốt nhất. Ngoài điều đó ra, tôi thực sự không thấy bất cứ điều gì mà các Phật tử hay các nhà lãnh đạo Phật giáo có thể làm hoặc có đủ năng lực để làm.
Rốt cuộc, chẳng có ai thực sự hứng thú với anitya, duhkha, và anatman [vô thường, khổ, và vô ngã]. Và bước ra ngoài những chân lý đó, nếu bạn chỉ đang xem sự gia tăng dân số như một thước đo cho sức mạnh của Phật giáo, bạn sẽ cần đến một thế lực địa chính trị thực sự. Bạn cần tiền tệ, quyền bá chủ và một chiến lược tiếp thị thực sự tinh vi, không biết ngượng ngùng và toàn diện do một người như Edward Bernays — người đã dạy cho các nhà quảng cáo cách biến nhu cầu thành sự ham muốn — điều hành. Phật giáo không có bất kỳ điều kiện tiên quyết nào trong số đó.
Trong các cuộc biểu tình ở Hồng Kông năm 2019–20, những người Cơ Đốc giáo đã tham gia rất mạnh mẽ vào việc ủng hộ người biểu tình, trong khi các Phật tử lại bị chỉ trích công khai và kín đáo vì đã không tham gia. Điều đó không có gì đáng ngạc nhiên bởi vì, như tôi đã đề cập trước đó, các tôn giáo Áp-ra-ham nảy sinh từ chính trị, trú ngụ trong chính trị, và tất yếu mang một thành tố chính trị. Và bởi vì họ mang tính nhị nguyên một cách đầy tự hào, những hậu duệ chính trị của họ thỉnh thoảng lại chỉ định ra một kẻ ác cần phải bị chinh phục và tiêu diệt. Ít nhất là trên lý thuyết, Phật giáo không có tính nhị nguyên lẫn sự can dự chính trị để hậu thuẫn cho những hành động như vậy, mặc dù tất nhiên vẫn có rất nhiều Phật tử nhúng tay vào trò chơi chính trị.
Tôi không rõ liệu sự không can dự của các Phật tử ở Hồng Kông có phải là sự cố ý hay không. Nhưng khi nghe về điều đó, tôi cảm thấy khá hài lòng. Hết lần này đến lần khác — từ Ukraine đến Mùa xuân Ả Rập, và từ Hàn Quốc đến những người Tây Tạng lưu vong — đã có minh chứng rõ ràng rằng các chính phủ và các tập đoàn hùng mạnh hoàn toàn không mảy may quan tâm đến sự an sinh của con người, mà chỉ bận tâm đến việc củng cố những lợi ích nhóm của chính họ.
Khi họ sử dụng chính trị để làm điều đó, sẽ là khôn ngoan nếu ta không biến mình thành bia đỡ đạn cho họ. Vậy nên, đó là một lời khuyên nữa mà tôi muốn dành cho các nhà lãnh đạo Phật giáo đang bị cám dỗ lao vào chốn chính trị ở thời điểm hiện tại.
Nguồn: https://www.buddhistdoor.net/features/demographics-destiny-and-dharma-an-interview-with-dzongsar-khyentse-rinpoche/